HỌ SỐNG QUANH TÔI- KỲ 3

By NGUYỄN QUANG VINH-CU VINH

HUYỀN THOẠI
VỀ NIỀM TIN SỐNG



Nguyễn Đức Vệ cụt cả hai tay

Đang là một bí thư chi đoàn thôn rất có uy tín không ngờ một quả bom bi còn sót lại trong vườn nhà đã nổ tung làm Nguyễn Đức Vệ (xã Quảng Đông huyện Quảng Trạch Quảng Bình) đứt lìa cả hai cánh tay và cụt luôn cả chân trái.

More...

HỌ SỐNG QUANH TÔI- KỲ 2

By NGUYỄN QUANG VINH-CU VINH

 

MẮT CỦA TRỜI



Anh Đinh Văn Lại mù lòa


Những bước chân của người đàn ông mù loà bước như chao trên mặt đất. Đột nhiên anh rẽ ngoặt dò dẫm một chút rồi tự tin bước thêm hai bước nữa đưa tay vào cánh cửa xe ô tô khách giật mạnh cánh cửa. anh tra chìa khoá vào ổ nổ máy. Đoạn anh giật luôn nắp máy xe ghé tai nghe tiếng máy gật gật đầu rồi gọi:" cháu ạ. Lên đường thôi".

More...

HỌ SỐNG QUANH TÔI- KỲ 1

By NGUYỄN QUANG VINH-CU VINH

THI CÁI


Dương Ánh Dương- gã ăn mày làm thơ đã không kịp nhìn thấy niềm ước ao của mình được thực hiện: tập thơ riêng được Hội văn học nghệ thuật Quảng Bình xuất bản. Anh đi ăn mày lang bạt nhưng lại trút hơi thở cuối ngay tại ngôi nhà tranh nghèo khó của mình anh mất khi bản thảo bài thơ mới viết chưa ráo mực đang cầm trên tay và người đầu tiên nghe anh đọc thơ trong đêm mưa rét ấy là vợ anh.
(PHỤ LỤC:
MỘT SỐ BÀI THƠ CỦA DƯƠNG ÁNH DƯƠNG)

More...

NHIỆM KỲ CHỮ- BÁO CHÍ 3

By NGUYỄN QUANG VINH-CU VINH

Khi tôi đã chọn cho mình nghề cầm bút quyết sống bằng nghề cầm bút nghĩa là tôi đã mặc định cho mình một nhiệm kỳ quyền lực vô thời hạn- nhiệm kỳ chữ. Cha đề cử tôi vào nhiệm kỳ chữ này. Mẹ cho tôi một lá phiếu bầu. Quê hương kiểm phiếu và thừa nhận tôi theo suốt nhiệm kỳ chữ của mình. Dài rộng quyền hành thế thực là hạnh phúc.

Khi tôi ba tuổi do ăn vụng tấm bánh ngọt mẹ tôi để phần cho anh Lập mẹ tôi giận quá lấy cả cặp sách của anh Lập đập vào đầu tôi. Một mẫu bút chì gãy ra dắt mũi chì vào da đầu. Mấy ngày sau tôi thấy đau. Gỡ mãi một lúc tôi lần trên da đầu mình mẫu bút chì nhỏ. Mẫu bút chì nhỏ từ cơn giận của mẹ nhưng đó là lá phiếu của mẹ cho tôi theo nghiệp chữ. Thuở bé tôi nghĩ thế lớn lên một chút tôi nghĩ thế khi cầm đồng tiền nhuận bút đầu tiên tôi cũng nghĩ thế và bây giờ tóc đã bạc trên đầu tôi vẫn nghĩ thế.

Mẹ cho tôi một định mệnh. Mẩu bút chì là định mệnh. Nỗi đau của mẩu bút chì cắm vào đầu là định mệnh. Tôi nhận ra khi tôi viết thành công là khi tôi biết viết những chữ đau. Nhà tôi ai cũng nhiều chữ. Chí ít cũng đọc thông viết thạo chí ít cũng lấy việc có chữ để thao tác công việc hành chính. Chỉ có mẹ tôi ít chữ. Mẹ tôi chỉ biết đúng một chữ: Châu- đó là tên mẹ. Dù vậy tôi cứ thấy một chữ mẹ biết có thể là quá đủ đối với mẹ rồi. Chỉ một chữ ấy- chữ tên mẹ tôi mẹ vẫn sinh ra 8 anh em nuôi nấng chăm bẵm cho ăn học đến nơi đến chốn.

Thế là mẹ đã làm tròn bổn phận của mẹ làm tròn bổn phận cái chữ Châu tên mẹ. Chữ ấy mới là chữ. Sau này khi đã là người cầm bút sống bằng chính nghề cầm bút tôi nhận ra rằng muốn sống được bằng chữ thì phải bắt đầu từ chữ thứ nhất của cuộc đời mình: chữ tên mình. Cầm chắc chữ ấy rồi thì mới hy vọng có thêm chữ khác. Tôi đã thực hiện như thế theo gương mẹ tôi. Lúc nào và bao giờ tôi cũng nắn nót cũng trân trọng cũng cẩn thận cũng chau chuốt cũng giữ gìn chữ thứ nhất của cuộc đời mình: chữ tên tôi.

Thời chiến tranh nhà tôi sơ tán ra động cát đào hầm ở dưới tầng âm để tránh máy bay. Tuổi thơ tôi không có trò gì chơi thú chơi chán ngắt và lặp tới  lặp lui là mỗi ngày chui lên lại chui xuống hầm để tránh máy bay thả bom. Tránh máy bay thả bom người lớn lo còn lũ trẻ của chúng tôi coi đó như trò chơi. Nhưng tôi không chịu chơi mãi như vậy. Sáng sớm tôi ra chân đồi cát mai phục trên con đường ven chân đồi cát chờ mấy chị gánh cá về chợ.

Tôi tự đào cát chôn mình trong cát chỉ lòi cái đầu tóc rễ tre lên khỏi lớp cát ướt và chờ. Mờ mờ sáng mấy chị làng chài gánh cá chạy bời bời về chợ. Tôi nhắm vào một bàn chân thò tay nắm đại một bàn chân trần của người đi bán cá kéo giật một cái. Người đàn bà gánh cá hoảng hồn kêu rú lên buông cả gánh cá vọt chạy. Tôi chui lên khỏi cát nhe cả hàm răng sún ra cười toàn thân tôi lấm lem cát.

Người đàn bà lấy đòn gánh phang tôi đuổi tôi chạy tứ tung. Tôi giấu người sau bụi xương rồng trốn. Người đàn bà thôi không tìm tôi nữa mà quay sang tìm cá. Do hoảng sợ vì trò đùa quái ác của tôi chị vứt gánh cá bây giờ cá văng vương vãi trên cát. Chị lần mò trên cát lần mò tìm kiếm từng con cá nhỏ nhặt cá lên dùng miệng thổi cát thổi chưa hết thì dùng cả vạt áo lau nhẹ trên từng con cá cho hết cát và xếp lại vào gánh.

Chị vừa nhặt cá thổi cát trên cá vừa khóc tấm tức. Tôi nhìn thấy hết. Chị  vừa lau cát trên từng con cá vừa nức nở lẩm bẩm: "Cá bẩn cát thì bán mần răng. Mần răng bán hết cá mua gạo cho con đây hả con... Không bán được cá tiền mô mang con đi bệnh viện đây con...". Tôi im lặng. Những con cá nhỏ lấm lem cát trên tay chị khiến tôi đau nhói. Dù trẻ con thế nhưng tôi nhận ra cái vị mặn chát nước mắt của người đàn bà nghèo nhặt cá vì trò nghịch ngợm của tôi. Tôi vẫn thường nghe người lớn nói về cái nghèo. Hôm ấy tôi nhìn thấy cái nghèo rõ mồn một cái nghèo từ nhận thức của tôi bắt đầu từ những con cá lấm lem cát xếp run rẩy trong gánh để mang đi chợ. Con cá bé nhỏ cát vùi nhưng đó là miếng cơm manh áo của người nghèo.

Sau này khi bắt đầu nghề viết nghĩ về trò đùa của mình nghĩ về những con cá lấm cát tôi hiểu rằng không có cách viết nào tốt hơn là hướng ngòi bút và tấm lòng mình vào thân phận những người nghèo. Cái chữ Nghèo tôi dùng nhiều lắm. Mỗi lần dùng kiểm tính lại thấy một phận người được cộng đồng giúp đỡ. Tôi như người đàn bà bán cá chợ xép tính toán lại theo từng chữ nghèo cộng lại số tiền người đời giúp đỡ cho những phận nghèo qua chữ tôi viết tính cũng đã sòm sèm hai ba tỷ đồng vị chi là tôi đã dùng chữ để cưu mang hàng chục thân phận chữ của tôi mang được tiền được gạo cho những thân phận của tôi.

Có bài viết tròn 2000 chữ như bài viết về  sự hy sinh cứu người trong lũ của chị Trần Thị Mai sau đó cộng đồng giúp chồng và 7 đứa con thơ dại của chị gần 800 triệu đồng tính ra mỗi chữ tôi viết được cưu mang gần 40 ngàn đồng chữ Nghèo đã trở nên nặng trĩu bởi những tấm lòng. Cứ đà này hết nhiệm kỳ chữ của mình không biết  những chữ nghèo của tôi sẽ mang theo được bao nhiêu tỉ đồng đến với muôn nẻo đường muôn số phận.

More...

NGHỀ KHÂM LIỆM- BÁO CHÍ 5

By NGUYỄN QUANG VINH-CU VINH

Nghề khâm liệm

        Tuy chẳng ai gọi là nghề nhưng làng nào cũng có một người "có nghề" khâm liệm. Người này nếu am tường phong tục lại thao tác thành thạo thì được bà con trong làng xóm đánh giá cao khi có việc thường nhờ vả. Dân ta nói chung vất vả lại nghèo nữa nhưng "nghĩa tử là nghĩa tận " nghĩa lần cuối nên việc ma chay thường làm rất chu tất nếu không nói là tốn kém và đầy rẫy yếu tố mê tín dị đoan. Nhưng thôi không nói đến chuyện đó. Trong câu chuyện này ông Kỉ hành nghề hú hồn người chết lại xuất phát từ tình cảm với đồng đội đồng bào. Ông hành nghề như người "vác tù và hàng tổng " nên có người còn sống nhăn răng đã mơ đến ngày được ông hú hồn cho (!) Kể như ông Kỉ cũng là một bậc đáng kính nể!

Ai cũng vậy khi chào đời bàn tay bà đỡ là cầu nối đầu tiên cho ta hoà nhập vào đời sống xã hội. Đến khi ta chết đi lại có đôi bàn tay cuối cùng của một người thay mặt cộng đồng xã hội đỡ đần thân xác ta về chín suối. Người làm cái công việc cuối cùng cho đời một con người được gọi là người khâm liệm tử thi. Ông Kỉ ở thị trấn Ba Đồn Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình là một người như thế mà tôi muốn giới thiệu với các bạn... Hy vọng cả ngàn ông Kỉ khác ở các làng được một chút an ủi khi có người tôn trọng viết về nghề khâm liệm của họ...

*

Ông Kỉ - Người Khâm Liệm.

Ông Kỉ đã uống tới ba cốc rượu vẫn không chịu công nhận với tôi về việc ông đã vào nghề khâm liệm. Ông đưa cả cánh tay lên nói to:

"Tui không hề chủ tâm theo nghề ni. Lúc đầu chỉ vì bà con nhờ thì tui làm. Làm mãi hàng chục năm nên trong làng ngoài xã ai có đám là ới tui đến. Cả ngàn người chết đều đã qua tay tui tính từ năm 1959 đến nay. Kể không xuể. Nhưng người mà tôi đã lần đầu liều mạng khâm liệm rồi như bị ma quỷ xui khiến đã bắt tôi cứ làm miết công việc khâm liệm này thì không quên được."

Đó là đám ma mệ Roòn. Nhà mệ gần nhà ông Kỉ. Khi ấy năm 1959 anh Kỉ vừa giải ngũ về. Mệ Roòn chết. Con cái mệ chạy qua gặp anh Kỉ. Người ta đã nhờ không lẽ từ chối. Nhà lại cận kề nhau ai nỡ... Với lại cứ coi như khâm liệm cho đồng đội mình hy sinh thôi có chi mà ngại! Thế là anh Kỉ nhận lời. Cũng may cha của anh Kỉ cũng từng là người khâm liệm trong vùng nên mỗi lần đi theo cha đến các đám ma anh Kỉ cũng có để ý cách thức khâm liệm. Vốn tính cẩn thận lại không nề hà việc gì anh Kỉ đã khâm liệm cho mệ Roòn rất chu đáo khiến những người trong gia đình và bà con trầm trồ khen ngợi. Thế là từ đó tin anh Kỉ khâm liệm người chết hay lắm cẩn thận lắm bài bản lắm cứ loang ra dần. "Nghĩa tử là nghĩa tận." Đời người ta có thể từ chối những lời nhờ vả nhưng khi đã được nhờ vả việc tử thì không ai nỡ. Ông Kỉ cũng vậy. Khi có người chết bà con nhờ ông khâm liệm ông nhận lời liền. Nghề khâm liệm bắt đầu ám vào đời ông bám riết cuộc đời ông đến ngày hôm nay khi ông đã bắt đầu bước sang tuổi 70 nhưng vẫn không có đám ma nào trong vùng mà người ta không nhờ đến ông Kỉ .

Ông Kỉ nói tất cả những cách thức động tác trong quá trình khâm liệm người chết là do người đời truyền lại còn sách vở ở đâu ông không biết.

Người chết trước khi khâm liệm được đặt nằm ở một phòng riêng. Ông Kỉ sai người nhà đun một nồi nước sôi lớn. Dùng lá đại bi hoặc nếu không kiếm được lá đại bi thì bẻ vụn một bó hương cho vào nồi đun lên nước sẽ thơm ngát. Người nhà chuẩn bị cho ông hai khăn tắm lớn mới một cái lược một lọ nước hoa một vuông vải đỏ và bộ áo quần (đã cắt nút) được may bằng lụa trắng hay đỏ. Vào việc ông cẩn thận chải tóc cho người chết lau mặt thậm chí đánh một chút son lên má lên môi... Rồi ông dùng ba sợi dây vải một sợi buộc ngang vai người chết một sợi buộc hai ngón chân cái với nhau một sợi buộc ngang lưng. Quan tài đã được mở nắp sau khi đã được lau chùi thật sạch ông cho vào đáy quan tài một lượng trà lớn hoặc cát trắng dùng tay khoả cho phẳng phiu. Đúng giờ khâm liệm ông Kỉ cần thêm hai người nữa một đỡ đầu một đỡ gót chân một người nâng thân người chết đặt nhẹ nhàng vào quan tài đầu hướng ra ngoài. Cho thi thể vào quan tài xong mở hết dây sửa sang lại thế nằm của người chết thật ngay ngắn chỉnh trang áo quần đầu tóc. Nếu người chết là đàn ông thì cho vào miệng 7 hạt gạo (đàn bà 9 hạt gạo) lại cho vào miệng thêm miếng trầu và vàng hoặc kỉ vật kim loại nếu người nhà yêu cầu. Xong việc đó ông đứng bên thi thể hô to ba lần: Sơ hàm bỏ gạo tái hàm bỏ trầu tam hàm bỏ vàng. (Tựa như thông báo công khai cho người chết biết những thứ mà người nhà đã gửi). Dứt câu hô thì lập tức đậy nắp quan tài chỉ để hở nắp ở phía đầu người chết chừng mười phân.

Xong xuôi tay ông Kỉ cầm hương ông vừa quơ hương trước mặt vừa hô thật to: - Hú ba hồn bảy vía ông Nguyễn Văn X về nhập xác. (Hô ba lần). Còn nếu người chết là nữ thì phải hô: Hú ba hồn chín vía Nguyễn Thị N về nhập xác (cũng hô ba lần). Sau cái hô đó thì nắp quan tài đóng chặt lại thật nhanh buộc bên ngoài bằng dây tre hoặc dây mây.
Công việc khâm liệm kết thúc như vậy.

Ông Kỉ uống với chủ nhà cốc rượu. Người nhà tuỳ lòng tuỳ hoàn cảnh có thể đưa cho ông 5 ngàn 10 ngàn ông không lấy hết mà để lại một nửa tiền đó lên bàn thờ để cúng hương hồn người chết.

Bất cứ ai và họ bị chết trong hoàn cảnh nào ông cũng cứ phận sự mình ông làm chu đáo cẩn thận tỉ mẩn và tình cảm chăm sóc của ông đối với người chết nếu ai được chứng kiến sẽ hết sức cảm động: Cảm động vì từng động tác của ông đối với thi thể thật trìu mến thật đôn hậu và ấm áp tình đồng loại. Bà con nói nếu ai chết mà được ông Kỉ khâm liệm coi như được chết sướng.

Tôi hỏi:

"Ông có tin rằng mỗi lần khâm liệm người chết ông hú ba hồn bảy vía thì có chắc là hồn người chết về nhập vào xác không?"

Ông Kỉ gật đầu: "Chắc."

Ông dứ tay vào trán tôi cười cười:

"Lũ chúng mày nghệ sĩ lãng mạn ham chơi hồn vía khi nào cũng lang thang nếu chúng mày có chết e tao phải gọi cả nửa ngày hồn chúng mày chưa chắc về nhập xác."

Tôi rùng mình.

Lại mong độ vài ba chục năm nữa khi chết già được ai đó như ông Kỉ gọi hồn một tiếng thì lo mà về...

More...

NHỮNG ĐỘNG CÁT THƠ- BÁO CHÍ 4

By NGUYỄN QUANG VINH-CU VINH


Quảng Bình những động cát thơ

Khó tìm thấy nơi nào như Quảng Bình trùng trùng cồn cát ven biển lại chỉ toàn cát trắng. Cũng thật khó tìm thấy nơi nào lại sinh ra nuôi dưỡng và đóng góp cho đất nước nhiều tên tuổi thi ca như Quảng Bình.

Xa xưa có các tài nhân Nguyễn Hàm Ninh Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn sau là Lưu Trọng Lư sau nữa là Xuân Hoàng Đông Trình Lâm Thị Mỹ Dạ Lê Thị Mây Nguyễn Văn Dinh Nguyễn Xuân Sanh Trần Nhật Thu Văn Lợi Ngô Minh Hải Kỳ Hoàng Vũ Thuật Mai Văn Hoan Hồng Thế Lý Hoài Xuân Lê Đình Ty mới mẻ và trẻ trung có thêm Lê Thị Mỹ Ý Hoàng Thiên Sơn...Và cũng không nơi nào như Quảng Bình mảnh đất gây cảm hứng và thử thách để tạo ra những cây bút thơ nổi tiếng của cả nước đã về Quảng Bình sống ở Quảng Bình thành danh thơ tại Quảng Bình như Phạm Ngọc Cảnh Chế Lan Viên Hữu Thỉnh Phạm Tiến Duật Tạ Hữu Yên Xuân Quỳnh Nguyễn Hữu Quý... Nhân dân Quảng Bình xây nên những tượng đài cao dài như trùng trùng cồn cát về những chiến công chống ngoại xâm thì các nhà thơ cũng đã biết xác lập những động cát thơ tên tuổi của riêng mình góp vào cho Quảng Bình một vẻ đẹp mới tạo nên một miền thơ mới miền thơ ở vùng cát trắng như nước mắt...

Những bước đi trong cát lại vấp thơ...

Cảm hứng thi ca có lẽ bắt được mạch nguồn ở vùng đất Quảng Bình này nên đã sinh ra lớp lớp các nhà thơ và cũng đã tạo dựng thành danh cho nhiều nhà thơ ở nhiều vùng quê khác nhau đến tại đất này. Từ nhà tôi chạy bộ một quãng gặp sông chạy bộ một quãng gặp trùng trùng cồn cát chạy bộ một quãng nữa gặp biển chạy ngược lên gặp bát ngát ruộng lúa lên nữa thì chạm ngay với điệp trùng Trường Sơn hùng vĩ. Cảnh đẹp như rứa sơn thuỷ hữu tình như rứa con người lại ham sống anh hùng chịu thương chịu khó như rứa nói như các cụ ở làng: Đất mình như rứa mần răng mà không ra thơ. Cát tạo hứng cho thơ gặp nhiều ở nhà thơ Ngô Minh. Anh quê ở xã Ngư Thuỷ cùng thôn với đại đội pháo binh nữ trong khi các o đang mải mê bên ụ pháo bắn tàu chiến thì Ngô Minh chạy rong trong cát tắm gội tuổi thơ mình trong cát thành danh một nhà thơ bắt đầu với những bài thơ xuất sắc về làng cát của mình thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam giành nhiều giải thưởng về thơ cũng bắt đầu từ những bài thơ về làng cát của mình. Những câu thơ anh viết về làng tôi không sao quên được:

Mẹ nuôi tôi bằng hai bàn tay/ Suốt một đời bới vào cát ấy/ Bàn tay mẹ cát dăm thành vảy/ Lớp móng mòn lớp khác lại thay...Hay Hạt cát nhỏ giấu bao mùa bão cuốn/ Nấm mộ cha vừa đắp gió khoả bằng/ Mẹ goá bụa một đàn con trẻ/ Mà cát trắng băng chẳng chút mỡ màu.

Nhà thơ Quảng Bình để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lòng nhiều thế hệ cả về bề dày thơ ca và nhân cách là nhà thơ Xuân Hoàng. Đến như Chế Lan Viên còn phải thừa nhận: "Đến Việt Bắc ta nhớ Bàn Tài Đoàn Nông Quốc Chấn; qua Gò Công Nam Bộ ta nhớ Hoàng Tố Nguyên; Qua Huế nhớ Nam Trân Nguyễn Khoa Điềm Thanh Hải...Mỗi lần đi qua đèo Ngang đến Quảng Bình ta lại nhớ đến Xuân Hoàng". Và đã là người Đồng Hới từng đi qua chiến tranh chống Mỹ không ai không nhớ những câu thơ đã làm cho Đồng Hới vững tin hơn vào ngày mai đã làm nên một phong cách thơ Xuân Hoàng:

Em đi phố nhỏ động cành dừa/ Cửa biển về khuya gió đêm ngả lạnh/ Phố nhỏ tan rồi qua bao trận đánh/ Bóng em về ấm lại dải đường xưa...

Xuân Hoàng không chỉ là nhà thơ lớn của đất nước của Quảng Bình anh là người thầy đầu tiên người anh cả dẫn dắt lớp lớp các nhà thơ Quảng Bình trưởng thành và nổi tiếng: Trần Nhật Thu Ngô Minh Hoàng Vũ Thuật Văn Lợi Lâm Thị Mỹ Dạ Lê Thị Mây Hải Kỳ Lý Hoài Xuân Mai Văn Hoan...Cát trắng chang chang như vậy cuộc sống ngặt nghèo như vậy nhưng cảm hứng thi ca ở vùng đất này suốt nhiều thế hệ không bao giờ cạn. Nói như câu thơ của Hữu Thỉnh khi anh vào Quảng Bình những năm chống Mỹ và cảm nhận Quảng Bình như bến đậu cho các nhà thơ để họ " chao chân" mình tắm gội cảm hứng trước khi vào trận: Cái chao chân đủ mát/ Cho ta đi suốt đời...Một điều độc đáo khác nữa ở Quảng Bình là bên cạnh những nhà thơ thành danh những nhà thơ là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam còn xuất hiện hàng trăm cũng có thể là hàng ngàn các tác giả thơ những người làm thơ thích làm thơ say mê làm thơ ở khắp làng trên xóm dưới trong ngoài trên dưới động cát đi đâu cũng có thể gặp người làm thơ. Thơ hay dở không bàn nhưng việc làng việc xã việc cưới hỏi việc ma chay việc vui buồn tất cả đều có thơ đi kèm. Thế là với Quảng Bình thơ không chỉ làm thiên chức cảm thụ hưởng thụ văn hoá đơn thuần mà thơ còn là một sức mạnh tinh thần to lớn để người dân quê tôi khi khổ quá khó khăn quá căng thẳng quá thì vịn vào câu thơ mà đứng lên lạc quan hơn tự tin hơn hay lúc quá vui thì cũng phải dùng thơ mới bày tỏ hết nỗi lòng. Thơ ở quê tôi như cát. Không có cát trắng không ra được dáng vóc gốc gác Quảng Bình và nếu không có thơ không làm thơ không say thơ thì e cũng khó mà trụ được ở Quảng Bình sống hồn nhiên vô tư đời đời kiếp kiếp ở Quảng Bình.

Ký hoạ

Tôi được chơi với nhiều nhà thơ Quảng Bình mỗi người một tính một nết cả cách sống kiểu làm thơ đọc thơ in thơ bán thơ...Nhà thơ Nguyễn Văn Dinh vốn đã nổi tiếng cả nước. Đời thơ ông gắn với thơ tứ tuyệt. Ông bằng tuổi cha tôi nhưng coi tôi như bạn. Gặp ông ở đâu ông cũng vồn vã cười tươi hơn hớn và bất cứ lúc nào cũng được ông "bắn" ngay cho một bài thơ mới làm. Tôi trọng ông. Trọng nhân cách và trọng tình yêu thơ ở ông. Trọng hơn nữa là mấy năm qua ông lao công khổ tứ làm ra tới 110 bài thơ tứ tuyệt về Bác Hồ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi đọc cũng phải cảm động viết lời tựa giới thiệu cho độc giả xa gần tìm đọc tập thơ về Bác của ông. Đặc biệt nữa từ hàng ba chục năm rồi nhà thơ Nguyễn Văn Dinh làm một việc có một không hai trên trái đất này ông gom từng đồng nhuận bút thơ đi gửi tiết kiệm. Mỗi lần gửi là mỗi lần nhận được nhuận bút thơ ngày xưa vài đồng sau đó là vài chục đồng rồi vài ngàn đồng bây giờ là vài chục ngàn vài trăm ngàn. Hoá ra ông Dinh lại có cái thú chơi nhuận bút thơ bằng sổ tiết kiệm. Nhưng tôi còn biết ông coi nhuận bút thơ không phải là tiền nhuận bút thơ làm sao nuôi sống được nhà thơ- ông coi nhuận bút thơ như cái dấu chân còn lại sau những chuyến đi sau những đêm dài sau những vật vã bên trang viết đó không còn là tiền hàng trăm cuốn sổ tiết kiệm ấy cộng lại không đến vài triệu bạc nhưng đó là phép cộng của bao giọt mồ hôi và công sức trong cuộc hành trình làm thơ suốt một đời của ông.

Tôi đã từng được nhà thơ Xuân Hoàng đọc thơ cho nghe. Ông đọc và cười rất to mỗi khi có được những câu thơ hay. Ông kéo tôi lại gần bên đọc cho nghe tôi lại cố tình dịch người ra xa ông lại hồn nhiên kéo tôi lại gần tôi lại hồn nhiên dịch người ra xa. Chỉ đơn giản là mỗi khi được ngồi bên ông nghe thơ nước mắt tôi chảy giàn giụa vì đau...Bởi vì ông có thói quen mỗi lần đọc thơ gặp câu nào tâm đắc ông lại vồn vã với tay sang người nghe thơ mình véo một cái gặp đâu véo đó tôi nghe ông đọc hai bài mà bắp đùi và mạng sườn thâm tím vì những cái véo của ông. Giờ nhớ lại thấy nhớ ông lạ lùng. Ông đang nằm bệnh trong Sài Gòn. Giờ ông có muốn véo tôi cũng không còn đủ sức. Thương ông lâm bệnh nặng và mỗi lần nhớ ông tôi lại đưa thơ ông ra đọc. Nhà thơ Ngô Minh có tiếng cười như tiếng đạn tiểu liên uống càng nhiều rượu càng cười tợn.

Hồi ở Huế Ngô Minh hay say vợ thường nổi cáu. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã viết: "Bạn bè ở Huế thương nhau lắm/ Một đứa vợ la chín đứa kinh...". Nhà thơ Văn Lợi thì cực tài trong làm thơ đối thơ chân dung thơ châm biếm thơ hài hước. Hội nghị nào anh cũng tranh thủ đọc vài bài thơ hay câu đối. Gặp anh vui như Tết. Hồi mắt anh chưa đi mổ quá kém mỗi lần thấy anh làm thơ mới khổ sở mặt anh đặt sát giấy tay cầm bút nghiên gập chữ chạy loằng ngoằng và thực sự là chữ anh chỉ có vợ anh mới đọc ra được. Thế mà anh làm thơ tình hay đáo để. Mắt anh kém nên nhìn cô gái nào anh cũng rung động. Hồi anh sang Liên Xô cũ tham quan về nhà anh kể mãi vẫn không ra Liên Xô vì trời ơi anh có thấy Liên Xô đâu chỉ thấy lờ mờ nhiều xe nhiều người nhiều nhà thôi. Bây giờ mắt anh khá nhiều rồi gặp cô nào cũng đã biết lúng liếng mắt nhìn rồi nhưng lại không thấy anh làm thơ tình nữa. Cũng lạ. Còn nữa không kể ra được nhưng suốt đời không ai quên một nhà thơ Hoàng Vũ Thuật Lý Hoài Xuân Hải Kỳ Thiên Sơn Lê Đình Ty Hồng Thế...

Vinh dự cho Quảng Bình bên những động cát tổ tiên còn thêm những động cát thơ- những tên tuổi thơ nối nhau đi cùng năm tháng những dòng thơ Quảng Bình lúc nào cũng ấm áp và cháy nồng như cát.

More...

ĂN MÀY VÌ CON- BÁO CHÍ 8

By NGUYỄN QUANG VINH-CU VINH

Ăn Mày Vì Con


Anh Trương Mãi chuẩn bị đồ nghề đi hát.Tai hoạ bắt đầu giáng xuống gia đình anh Trương Mãi xóm Bún thôn Nam đội 1 xã Lộc An huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên-Huế vào năm 1993. Tận cùng khổ cực muốn nuôi các con anh đành làm nghề hát rong ăn mày...

Ngày ấy vợ chồng anh Mãi chị Hiến dù nghèo nhưng cuộc sống vẫn tạm đủ. Sinh nở được 3 đứa con anh đi làm thuê chị bán hàng vặt ở chợ đủ ăn hạnh phúc. Nhưng rồi anh Mãi bị bệnh hiểm nghèo phải phẫu thuật cắt bỏ từng phần của tứ chi. Với 19 lần phẫu thuật anh trở nên tàn phế: cụt hai chân một tay còn cánh tay cuối cùng thì cũng bị cắt bỏ đến nửa bàn.


Tình cha

Cho tới khi phải cắt bỏ hai chân và một tay anh Trương Mãi đã nghĩ đến cái chết nhưng không chết được vì vợ anh phát hiện anh uống thuốc chuột đã đưa đi cấp cứu kịp thời. Chị Hiến nghĩ đến chuyện này vẫn còn nghèn nghẹn: "Tui ôm anh từ viện về nói nếu không còn đường sống thì vợ chồng con cái cùng chết anh không thể chết một mình như rứa được.

Ngày đó cực dễ sợ. Ba đứa con thì còn nhỏ chưa làm chi lại còn đi học mà anh Mãi thì dứt khoát phải cho các con đi học. Tui bán cháo bánh canh bánh bột lọc mỗi ngày lết từ đầu chợ đến cuối chợ cũng chỉ kiếm được vài chục ngàn thôi. Anh Mãi nằm ở nhà có mặt tui anh giả vờ trò chuyện cười cợt vắng tui anh ấy khóc".


Vợ chồng anh Trương Mãi.Rồi một ngày xóm Bún bỗng vang lên tiếng loa máy tiếng hát. Bà con ngạc nhiên. Hoá ra anh Mãi quyết định vay mượn mua bộ ampli loa máy hết một triệu đồng rồi bắt đầu ngồi nhà tập hát. "Bế tắc lắm rồi anh nờ không hát rong ăn mày thì mần chi đây. Đêm nớ tui tập hát ở nhà. Mấy đứa con nhỏ dại thấy cha mình hát hò thì nhăn răng cười vợ tui thì chúi mặt trong vách nhà nằm khóc nhưng không phản đối. Mấy đêm liền tui không ngủ được. Trời ơi đời mình giờ thành thằng hát rong ăn mày rồi à? Cảm giác đau đớn ngượng ngùng ngao ngán xâm chiếm tâm trí tui. Nghĩ tới nghĩ lui mình vẫn là thằng đàn ông trong nhà là người cha người chồng mình không thể ăn bám không thể bó tay được. Tật nguyền tứ chi thì đi ăn mày thôi. Nuôi con cái đã....".

Anh Trương Mãi không quên được ngày đầu tiên anh đi hát rong ăn mày: ngày 28.7.2004. Anh kéo đứa con gái theo cùng. Hai cha con ra ngay chợ làng. Anh hát bài đầu tiên trong đời hát rong của mình: "Tình cha ấm cúng như vầng thái dương. Ngọt ngào như dòng nước trên đầu nguồn...". Con gái anh oà khóc. Nhiều người làng nhìn thấy tình cảnh cha con anh như vậy cũng không cầm được nước mắt. Anh cũng khóc theo.

"Nhưng tui cố gạt nước mắt để hát cho rõ lời: Suốt đời vì con gian nan ơn tình đậm sâu bao nhiêu. Cha hỡi cha già dấu yêu...". Ngày hôm đó cha con anh được bà con cho 180 ngàn đồng số tiền "khổng lồ" so với thu nhập lâu nay của gia đình anh. Ngày thứ nhất hát rong kết thúc anh khản tiếng mệt rã rời nhưng có tiền...

"Tui nói với vợ và 3 đứa con: Khổ cực mấy cha cũng sẽ tiếp tục hát rong nuôi cả nhà. Từ nay các con phải học. Thương cha thì các con phải học giỏi. Rứa thôi. Không bàn bạc chi nữa. Từ ngày mai cha đi hát rong...".

"Thấy con học giỏi mà... sợ"

Sau ngày "khai trương" nghề hát rong được 180 ngàn đồng nhiều ngày tháng sau đó mỗi ngày chỉ năm ba chục ngàn và anh phải đi hát rong ăn mày tất cả các chợ trong tỉnh sang cả tỉnh bạn hát tận Tây Nguyên hàng tháng trời mới về nhà một lần. Chị Hiến ở nhà lo cơm nước cho 3 đứa con mỗi sáng bán thêm cháo bánh kiếm vài chục ngàn đồng lãi đủ mua gạo và mắm muối... Tiền anh Mãi gửi về anh chị dồn vào tiền học phí tiền sách vở giấy bút cho các con ăn học.


Anh Trương Mãi. "Lạ đời dễ sợ chú ạ. Tui cứ nghe các bác các o trong xã phàn nàn chuyện học hành của con cái. Nhà người ta đầy đủ ăn no mặc ấm cái chi cũng có lại học không được. Ba đứa con tui bữa no bữa đói áo quần chưa đủ lành lặn rứa mà đứa mô cũng học giỏi. Thấy mấy đứa con học giỏi mà sợ quá. Răng không sợ hả chú. Nếu con nó học không được hết cấp 2 có thể thôi học ở nhà kiếm việc làm đỡ đần cho cha mẹ. Chừ đứa mô học cũng giỏi lên lớp ào ào học một lèo đến cấp 2 cấp 3 học giỏi thì phải cho con theo học tiếp răng nỡ bắt nó nghỉ học được. Các con càng lớn học càng cao vợ chồng tui càng khó khăn...".

Anh Trương Mãi húng hắng ho nhìn tôi ánh mắt anh long lanh vui: "Thằng con trai đầu của tui thi một cái là đỗ đại học luôn chú ạ. Hiện cháu đang học Đại học Bách khoa Đà Nẵng. Tui nhớ ngày cháu thi đại học về nhà nằm vật ra giường khóc. Tui hoảng quá tưởng con không làm được bài. Hắn ôm tui khóc mếu máo: "Cha ơi con làm bài được hết nếu mà đỗ thì mần răng cha?". Tui quát: "Đỗ thì sướng cả nhà chớ răng nữa. Cả làng ni mấy năm nay có đứa mô đỗ đại học?". Thằng con tui khóc: "Nhưng nhà mình nghèo con lấy tiền mô đi học?". Tui cà cà khuôn mặt đẫm nước mắt của mình lên mái tóc của con trai: "Cha đi hát rong kiếm tiền nuôi con học đại học không được à? Được quá đi chớ? Phải không?".

Ngày cháu có giấy báo đỗ đại học bà con làng xóm đến đông lắm. Mỗi người cho vài ngàn vài chục ngàn động viên cháu nhập trường. Hai đứa em gái của nó nhìn tui: "Cha ơi tới đây các con cũng thi đỗ đại học nữa cha có nuôi được không cha?". Vợ tui tái mặt nhìn tui. Tui cười nói như hô khẩu hiệu: "Nuôi được hết. Cùng lắm thì cha hát cả ngày lẫn đêm xin tiền là được chớ gì?". Cả nhà tui nhìn nhau cười. Nhưng cười rứa thôi nỏ ai lại cầm nổi nước mắt"...

Sẽ đến một ngày...

Anh Trương Mãi ghé sát vào tai tôi thì thầm: "Chú ạ. Có điều này tui nói thiệt với chú. Bác sĩ nói rồi bệnh tui không chữa được. Năm bảy năm nữa cũng có thể là vài ba năm nữa tui sẽ chết...". Tôi choàng tay ghì lấy anh nín lặng.

Nhưng đột ngột anh lại đổi giọng to tát: "Chuyện hát rong của tui có nhiều kỷ niệm vui lắm cả buồn nữa. Có hôm mất công thuê xe ôm chở đến chợ mới hát được nửa bài thì loa máy hỏng rứa là phải quay về nhà. Có hôm tui hát mấy mệ bán hàng nói: "Chú đừng hát bài nớ mệ nghe buồn lắm nhớ con lắm hát bài khác đi". Lại có hôm mấy anh thanh niên uống rượu mời tui ngồi cùng tui hát phục vụ cho mấy anh uống. Những hôm như vậy các anh ấy thương cho nhiều tiền. Đi gần thì tối đến tui thuê xe ôm về nhà.

Đi xa thì ăn ngủ vạ vật cho qua ngày. Tiền hát rong chú biết rồi từng đồng bạc lẻ phải tằn tiện từng ngàn một. Đồng bạc mang về rúm ró rách nát cả nhưng vợ con tui kiên trì vuốt thẳng từng tờ một xếp lại thành từng tệp từng tệp...".

Anh lại kể: "Bữa nay mấy chị mấy o ở các chợ thích nghe những bài hát mới. Tui phải đổi bài liên tục. Có tuần tui ở nhà vài ngày ra quán karaoke đầu xóm tập hát những bài hát mới cho thuộc để khi mấy mệ mấy o ở chợ yêu cầu bài mới là hát được. Nghề hát rong nói rứa thôi cũng phải chuyên nghiệp. Mùa gần tết chọn bài về cảnh chia ly về tình thương mẹ con nỗi nhớ mong chồng vợ nghe uỷ mị. Mùa hè thì chọn những bài vui về cưới xin về tình yêu về tuổi trẻ mà hát. Ngày mưa hát bài thiệt buồn. Rứa đó chọn đúng bài đúng mùa đúng người nghe thì người ta cho mình nhiều tiền chú ạ....".

Câu chuyện lại quay về thực tại anh không giấu được lo lắng: "Nếu vài năm nữa tui chết nhà e cơ cực. Hai đứa con gái sau cùng đang học trung học rồi. Chúng nó lại học giỏi lại thi đỗ đại học thôi. Nếu tui chết sau khi mấy đứa con học xong đại học thì hay chú hè. E không kịp. E chịu... Ngày đêm mô tui cũng đau đớn...".
"Lạ đời dễ sợ chú ạ. Tui cứ nghe các bác các o trong xã phàn nàn chuyện học hành của con cái. Nhà người ta đầy đủ ăn no mặc ấm cái chi cũng có lại học không được. Ba đứa con tui bữa no bữa đói áo quần chưa đủ lành lặn rứa mà đứa mô cũng học giỏi. Thấy mấy đứa con học giỏi mà sợ quá. Răng không sợ hả chú. Nếu con nó học không được hết cấp 2 có thể thôi học ở nhà kiếm việc làm đỡ đần cho cha mẹ. Chừ đứa mô học cũng giỏi lên lớp ào ào học một lèo đến cấp 2 cấp 3 học giỏi thì phải cho con theo học tiếp răng nỡ bắt nó nghỉ học được. Các con càng lớn học càng cao vợ chồng tui càng khó khăn...".

Anh Trương Mãi húng hắng ho nhìn tôi ánh mắt anh long lanh vui: "Thằng con trai đầu của tui thi một cái là đỗ đại học luôn chú ạ. Hiện cháu đang học Đại học Bách khoa Đà Nẵng. Tui nhớ ngày cháu thi đại học về nhà nằm vật ra giường khóc. Tui hoảng quá tưởng con không làm được bài. Hắn ôm tui khóc mếu máo: "Cha ơi con làm bài được hết nếu mà đỗ thì mần răng cha?". Tui quát: "Đỗ thì sướng cả nhà chớ răng nữa. Cả làng ni mấy năm nay có đứa mô đỗ đại học?". Thằng con tui khóc: "Nhưng nhà mình nghèo con lấy tiền mô đi học?". Tui cà cà khuôn mặt đẫm nước mắt của mình lên mái tóc của con trai: "Cha đi hát rong kiếm tiền nuôi con học đại học không được à? Được quá đi chớ? Phải không?".

Ngày cháu có giấy báo đỗ đại học bà con làng xóm đến đông lắm. Mỗi người cho vài ngàn vài chục ngàn động viên cháu nhập trường. Hai đứa em gái của nó nhìn tui: "Cha ơi tới đây các con cũng thi đỗ đại học nữa cha có nuôi được không cha?". Vợ tui tái mặt nhìn tui. Tui cười nói như hô khẩu hiệu: "Nuôi được hết. Cùng lắm thì cha hát cả ngày lẫn đêm xin tiền là được chớ gì?". Cả nhà tui nhìn nhau cười. Nhưng cười rứa thôi nỏ ai lại cầm nổi nước mắt"...


Cuốn sổ chép bài hát của anh Trương Mãi. Rồi anh gật đầu: "Nhưng tui cũng vui lắm rồi. Thân thể tàn phế như ri mà vẫn cố sống cố ăn mày nuôi các con học hành tử tế rứa là vui lắm rồi...".

Đột ngột anh Trương Mãi hỏi tôi: "Nếu mà chú rơi vào hoàn cảnh của tui hết cách sống chú cũng phải đi hát rong ăn mày nuôi con chớ vì con chớ?". Tôi không khó tìm câu trả lời bằng cái gật đầu mạnh mẽ.

Tiếng anh hạ xuống: "Rứa là được. Chỉ mong trời cho tui sống thêm đừng chết sớm nhưng mà đêm nằm đau buốt từng khớp xương từng thớ thịt như ri e không xa nữa đâu chú ạ... Không xa nữa...".

Anh gập người kéo bộ ampli lại gần cầm micro đột nhiên cất giọng hát: "Cắt nửa vầng trăng tôi làm con đò nhỏ. Chặt đôi câu thơ bẻ đôi câu thơ tôi làm mái chèo lướt sóng..."... Tôi nghe trong tiếng hát của anh có tiếng nấc...

More...

CÁT TRẮNG NHƯ GẠO- BÁO CHÍ 9

By NGUYỄN QUANG VINH-CU VINH

Cát trắng như gạo

1. Cát trắng như gạo

Tôi có lẽ quá gắn bó với cát đến nỗi trong giấc ngủ trên trang viết trong niềm vui nỗi buồn của mình đều có bóng dáng cát trong đó. Khi có dịp không chiều nào tôi không đi lang thang dọc những triền cát để nhìn ngắm để ngẫm ngợi để đong đếm lại khoảng thời gian mình đã sống. Và lúc nào ra với cát tôi cũng thấy lại tuổi thơ mình thấy mình vô cùng nhỏ bé thấy mình hình như vẫn còn mắc nợ với cát nhiều lắm. Tôi có một tuổi thơ dài trên cát lấm lem cát lấm lem tuổi thơ vây bọc tuổi thơ cát thổi vào tôi những cọ xát đau đớn và dịu ngọt hạnh phúc và cả những bất hạnh. Mỗi con người quê mình như đời cát. Nhưng cũng vì như đời cát nên tôi mới nhận ra rằng kể từ những năm chiến tranh tới bây giờ cát quê có ba lần thay đổi và những người Quảng Bình có ba lần thay đổi mắt nhìn về phía cát.

CáT CủA THờI ĐạN BOM

Trong chiến tranh lũ con nít chúng tôi phải theo gia đình rời xa làng mình số lên rừng số nữa thì dịch chuyển chỗ ở của mình lên những động cát trắng. Đa phần người dân đều thích dịch chuyển thân phận mình về phía những động cát để tránh bom đạn. Làm nhà trên cát làm hầm trên cát trường học bệnh xá hầm cứu thương cả những cái bếp thậm chí là những đám cưới tất cả đều tổ chức trong những căn hầm trên cát. Chúng tôi học trong những căn nhà hầm nửa chìm nửa nổi. Tiếng cô giáo giảng bài có lúc không lấn lát được tiếng gầm rú của máy bay Mỹ. Nhưng đó là những tháng năm gian khổ cay cực ác liệt nhưng cũng đẹp nhất của tuổi thơ chúng tôi. Và tôi gọi đấy là những tháng năm của tuổi thơ cát. Những năm chiến tranh Quảng Bình hướng nhìn về phía cát nơi ấy là những người thân đang sinh sống là trường học là những nếp nhà nơi ấy còn là những trận địa pháo cao xạ của bộ đội. Cát trắng ngơ trắng ngất cát mênh mông trước mắt nhìn và lấp ló trên màu cát trắng vĩnh cửu ấy là những xóm làng là hầm trú ẩn giao thông hào. Chúng tôi đã nhìn thấy những trận chiến đấu ngoan cường của bộ đội bắn máy bay Mỹ. Chúng tôi đã quì xuống bên thân xác của các chú bộ đội hy sinh màu đỏ của máu thấm vào cát đỏ chói chang đỏ như màu cờ Tổ quốc. Chúng tôi đã từng chạy ù ù theo các cô các chú dân quân vác đòn gánh vác cả đá cả dao rựa đuổi theo một tên phi công Mỹ rơi trên động cát. Khi ấy cát như tấm lưới lớn vây bủa tên giặc lái Mỹ còn những chú bé như chúng tôi thì vừa chạy hùng hục trên cát vừa la hét rầm trời. Nhiều lần lũ con nít chúng tôi chạy ra trận địa pháo của bộ đội ngồi rình chờ cho đến khi các chú ăn xong cơm số cơm thừa các chú vẫn chôn xuống cát chúng tôi mò ra đào bới vun vén thứ cơm trắng tinh nằm trong cát ấy mỗi đứa chia nhau một vốc ăn dù là cơm trộn cát nhưng vẫn còn ngon hơn chán vạn khoai luộc và món xương rồng xào mỡ. Tôi khoẻ mạnh no đủ một phần cũng nhờ vào những nắm cơm được bới lên từ cát ấy. Chúng tôi đã cùng cha mẹ mình sống những tháng năm trên cát thời chiến tranh bát cơm trộn cát xương rồng xào với con nhông ăn qua mùa giáp hạt. Chúng tôi cũng đã để lại những dấu yêu đầu đời trên cát mênh mông. Thời chống Mỹ cát trở nên một pháo đài cho quê hương. Cát chở che cát ôm ấp cát như biển ôm lấy những con thuyền. Và sau chiến tranh có dịp đi lại những triền cát quê hương cát không phẳng nữa trên cát đã có bao nhiêu ngôi mộ. Đó là dấu tích không được ai lãng quên dấu tích của những ngôi mộ dấu tích của cát một thời cùng quê hương đánh Mỹ.

Trong muôn vàn thân phận cát của người Quảng Bình tôi chỉ muốn gửi đến bạn đọc một thân phận cát cụ thể.

34 năm rồi tôi mới gặp lại ông Xuân thầy Xuân của tôi trong ngôi nhà thực khang trang của anh con trai cả tại chợ Cổng xã Quảng Lưu huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình. Ông đã 75 tuổi và tôi cái thằng cu Vinh đen thui như củ khoai nướng ngày nào giờ tóc đã lốm đốm bạc. Thế mà ông vẫn nhận ra tôi. Thế mà ông vẫn nhớ vanh vách những chuyện nghịch ngợm động trời của lũ con nít chúng tôi thời ấy thời chiến tranh. Hồi đó nhà tôi sơ tán lên thôn Đông Dương làng ông. Vòng vo chuyện trò khi tôi nhắc đến cái chết bi thảm của vợ con ông thì tiếng ông chùng xuống. ‘ Chỉ còn hai ngày nữa là đến ngày tuyên bố kết thúc chiến tranh phá hoại miền Bắc của tụi Mỹ chớ mấy. Còn hai ngày nữa... Hôm đó ngày 29-10-1968 máy bay trút bom xuống làng. Vợ tui hai đứa con tui cùng chết vì bom Napan chết cháy thui mà chỉ còn hai ngày nữa chớ mấy vì ngày 1-11 năm đó chiến tranh phá hoại cũng kết thúc cháu ạ... Còn hai ngày nữa răng không ai sống cả? Răng lại rứa?". Ông kể rồi ông hỏi rồi ông nhắc tới nhắc lui cái thời khắc hai ngày hết chiến tranh phá hoại. Rồi ông rít thuốc lá và im lặng. Tôi biết vào thời điểm vợ con ông chết ông không có mặt tại làng. Lúc đó ông đang làm giáo viên tại tỉnh Hưng Yên để dạy dỗ cho hàng trăm trẻ em Quảng Bình sơ tán ra miền Bắc theo diện K8. Nhưng chính ngày vợ con ông chết thì tôi lại chứng kiến. Khi đó tôi 10 tuổi. Nhà ông cách nhà tôi mấy trăm mét. Tôi cùng mọi người trong làng chạy đến. Xác vợ con ông cháy đen nằm trên chiếu. Anh con trai cả và đứa em gái thứ đang ngồi khóc. Ngoài Bắc ông và một đứa con trai nữa mãi một tháng sau mới nhận được tin. Ông đưa cánh tay gầy guộc ôm ngực kể: "Nghe tin vợ con tui chết tui phát điên phát rồ. Tui không tin. Tui gửi đứa con trai 5 tuổi lại cho anh em một mình nhào về làng. Tui băng đường qua trùng trùng cồn cát chạy tắt về làng đổ nhào vào ba ngôi mộ bằng cát vun cao hương khói còn mới nhang đèn còn mới đất đai còn mới. Tôi chúi đầu vào ba nấm mộ mà gào khóc. Đêm đó trên cát tui và hai đứa con ngồi cùng ba nấm mộ. Đêm đó không ai khóc nữa. Tui cũng không khóc nữa. Khóc làm chi nữa khi mà lúc này tui phải thay vợ tui nuôi ba đứa con. Tình cảnh lúc đó nghiệt ngã lắm khổ lắm thời điểm đó cuộc sống căng thẳng lắm thiếu thốn lắm một tay ba đứa con nhỏ dại mấy cha con lếch thếch ngồi bên nhau dưới chân mộ bốn bề là cát cát xót .như nước mắt mần răng khóc được nữa... Nhà có 7 người bom Mỹ trừ đi ba rồi còn bốn nữa hỏi mần răng mà khóc?...".

Làng Đông Dương không ai tin ông Xuân sẽ nuôi nổi các con trong một hoàn cảnh ngặt nghèo và khốn khó đến như vậy. Mấy chục đồng lương của ông sẻ chia ra từng ngày sẻ chia vào bữa ăn giấc ngủ cuốn vở viên thuốc mái tranh hạt muối tính toán chi cũng thấy thiếu nhưng thiếu cũng phải dựa vào đó mà sống mà đắp đổi. Ngày đó làng Đông Dương nghèo xơ xác. Nghèo và đói. Tôi vẫn còn nhớ đã cùng lũ trẻ đi bới cơm cháy mà bộ đội pháo ăn thừa chôn trong cát. Bộ đội thương con trẻ nhưng không dám đem cho cơm cháy sợ mất quan điểm. Lũ trẻ chúng tôi đêm đêm bò ra cát tìm bới những hố cát nhỏ chôn cơm cháy lôi lên chao qua nước cho hết cát và chia nhau ăn rau ráu như một đàn cò đói. Chúng tôi còn phải ăn cám gạo với món xương rồng xào với ruốc đắng và mặn chát nuốt đến trợn tròn con mắt mới qua nổi cuống họng. Ông Xuân nói: ‘ Tui xác định rồi để nuôi các con lớn khôn thiệt khó nhưng còn làm được. Để chúng nó học hành đến nơi đến chốn mới cay cực. Nhưng tui đã hứa trước mộ mẹ nó rồi tui sẽ thay mẹ nó nuôi các con tui học hành tử tế. Khổ mấy cũng phải học hành tử tế có nghề có nghiệp . Những ngày đầu tiên vắng mẹ trong căn nhà tranh dưới chân động cát ấy mới cô quạnh làm sao. Thằng cu Minh khóc rưng rức đòi mẹ bế. Con Mai nửa đêm gào thét tên mẹ rồi cứ chạy ra động cát quăng người vào mộ của mẹ mà gào khóc. Ông ôm các con vào lòng ông hát ông hát thật to cho át đi nỗi đau át đi nỗi cô đơn các con ông cô quạnh vì thiếu vắng hơi mẹ nó đã đành chính ông người chồng vắng hơi vợ trong lòng buốt đau như bị gai xương rồng cứa. Cũng qua hết. Ông chèo chống với cuộc sống làm tất cả những gì có thể làm để cầm cự cơm cháo cho các con chắt bóp từng xu tiền lương để bảo đảm cuộc sống cho cả gia đình. Ngày nào người làng cũng thấy ông tất tả ngược xuôi. Người ông gầy tọp. Tóc ông bạc trắng rồi rụng dần. Khuôn mặt ông hốc hác. Ông như những hạt cát lăn lộn giữa đời để nuôi các con. "Tui vẫn thường lên động cát ngồi với mộ mẹ nó và hai đứa con tui. Có khi tui ngồi cả đêm. Tui ngồi im như động cát vậy đó . Ông lại kể: Những ngày con Mai thằng Minh về thị trấn học cấp 3 ông giao cho hai chị em mỗi tuần 3 lon gạo bốn lon khoai và một nồi cà ăn sao đó cho đủ cả tuần thì ăn. "Nhớ lại mấy cha con tui vẫn nhìn nhau hỏi vì răng mà hai chị em có 3 lon gạo 4 lon khoai vẫn ăn đủ trong tuần lại học vẫn giỏi chịu không biết vì răng ngày đó mấy đứa con tui chịu đựng giỏi như rứa mà không kêu ca. Kêu chi được vì ở nhà tui và thằng Đông mỗi tuần cũng chỉ dám ăn hai lon gạo và năm lon khoai thôi. Như rứa mà vẫn phải xoay xở vay mượn thêm đó... . Anh Đông nói thêm vào: "Tui nói với các em bay coi ba đó còn chi ở ba nữa mà đòi hỏi ba như động cát hết khả năng rồi có chi là ba cho anh em mình hết rồi chỉ còn cách chịu cực mà học thiệt giỏi cho ba vui thôi. Khổ như rứa mà mấy anh em tụi tui học đều giỏi . Ông Xuân khoe: "Thằng Đông con trai cả nay đã là hiệu trưởng trường trung học cơ sở. Con Mai đang là giáo viên giỏi trong tỉnh Bình Dương. Thằng cu Minh là thầy giáo dạy hội họa giỏi. Cả ba đứa đều đã có gia đình. Tui có cháu nội cháu ngoại hết rồi lại có cả chắt nữa rồi. Mấy năm nay tui thay cả vai bà nội bà ngoại chăm sóc các cháu . Ông Xuân đã thay thế vị trí bà nội bà ngoại theo đúng nghĩa của từ này. Khi các con ông sinh nở ông có mặt chăm bằm cháu nhỏ đảm đang và lo toan như một người bà thực sự. Năm này ông đến ở với vợ chồng con gái chăm cháu nhỏ năm sau ông lại sang với vợ chồng con trai quay qua quay về hàng chục năm trời như vậy theo con theo cháu không chút mệt mỏi. Người làng khen ông hát ru giỏi. Người làng khen ông giặt giũ chăm sóc cháu nhỏ mát tay. Các con ông thì coi ông là một động cát lớn của đời mình động cát đó che chắn gió bão mưa nắng nuôi nấng họ bảo vệ họ che chở họ. Còn ông? Ông cười: "Tui vẫn thích ai đó gọi tui là động cát. Tui thích được gọi như rứa. Tui đã chọn cho mình chỗ nằm bên vợ và hai con đã mất của tui rồi cũng trên động cát sau làng đó thôi sớm muộn chi vợ chồng tui cũng đoàn tụ thôi mà. Chừ tui hài lòng lắm. Các con tui đã trưởng thành nên chồng nên vợ làm ăn phát đạt thành những người tử tế cả. Phận làm cha của tui đã tròn. Việc tui thay mẹ nó mấy chục năm qua với các con cũng đã tròn. Cuộc đời rứa là vui cháu ạ .

Ông đưa tôi ra động cát sau làng đến thẳng nơi có ba nấm mộ nằm bên nhau. Ông ngồi thụp xuống bên ba nấm mộ đó bàn tay gầy guộc của ông ve vuốt những làn cát. Mà hình như cát trên những ngôi mộ đã mòn vì suốt mấy chục năm qua có lẽ không ngày nào là ông không ra đây ve vuốt. Có một tiếng gọi mẹ từ đâu đó trong tôi như muốn bật ra. Ông là Mẹ và cũng chính ông là ĐộNG CáT.

cáT CủA RừNG

Không ai cho tôi biết người ta bắt đầu nghĩ đến việc trồng rừng chắn cát từ lúc nào. Nhưng chắc chắn là hàng bao đời nay rồi mà sự nghiệp trồng rừng chắn cát vẫn không thành bởi vì còn kia trên những động cát xưa những gốc cây phi lao già cỗi nằm chết nghẹn bên chân những động cát. Tôi đã từng ngồi rất lâu bên gốc cây phi lao có lớp vỏ sần sùi chồng lên nhau và đếm thời gian sống của gốc cây già rồi mường tượng thời ngày xưa cha ông cũng đã từng lăn lộn trên cát trồng cây trên cát nhưng rồi gió bão sự nắng cháy đã có thể làm thiêu rụi những cánh rừng. Cho đến những năm gần đây thì sự nghiệp trồng rừng chắn cát mới thực sự phủ một màu xanh bát ngát trên những triền cát trắng quê hương. Tôi không quên được mệ Nghèng người đàn bà làng cát vì thành tích trồng cây chắn cát mà được Nhà nước phong Anh hùng Lao động. Mệ Nghèng anh hùng trước hết là vì mệ trồng thật nhiều cây không phải để thành anh hùng. Cũng như chúng tôi thôi chúng tôi là người làng cát mà đã là người làng cát thì chắc chắn phải có sức chịu đựng dẻo dai phải ngoan cường sống ngoan cường chế ngự cát không phải ai muốn làm người làng cát cũng được. Cũng như mệ Nghèng thôi nếu mệ cố ý trồng thật nhiều cây để thành anh hùng chắc là mệ không bao giờ thành anh hùng. Những năm tháng này lần thứ hai tôi nhìn thấy quê hương hướng mắt nhìn về cát với một cuộc cách mạng trồng rừng to lớn. Mới đó thôi rừng xanh đã phủ dày suốt hơn một trăm cây số cát. Những rừng cây quá đẹp và vững chắc từ Cảnh Dương đến Đồng Hới Lệ Thuỷ Quảng Ninh. Những rừng cây do chính nhân dân tự trồng rừng của các dự án tất cả đã trở thành một vành đai xanh bao phủ trên màu cát chang chang và cát lại trở nên chiếc nôi ru êm những rừng cây ven biển. Cuộc cách mạng chế ngự cát của quê hương đã hoàn thành. Nhưng chúng ta đã không dừng lại ở đó. Lần thứ ba vào thời đổi mới quê hương lại hướng mắt nhìn về phía cát để tiếp tục làm một cuộc cách mạng cuộc cách mạng tạo nên sự giàu có cuộc cách mạng tạo thêm trên vùng cát quê nhà những gương mặt triệu phú mới triệu phú cát.

CáT TRIệU PHú

Ai đã đưa kĩ thuật nuôi tôm trên cát về Quảng Bình? Bây giờ thì khó đoán định được nhưng tôi chắc chắn rằng đơn vị làm thành công đầu tiên là chính Công ty phân bón sông Gianh. Cách đây mấy năm trên bãi biển Thanh Khê ấy những triền cát vẫn trập trùng. Thế mà chỉ sau đó một thời gian ngắn người ta đã ngăn cát thành hồ tháo nước biển vào thả tôm giống nuôi theo công nghệ hiện đại và đã thu được những vụ tôm giống đầu tiên rất khả quan. Tiếp đó là hàng trăm hồ nuôi tôm trên cát được hình thành. Bây giờ trong cuộc sống làm ăn hàng ngày của người dân làng cát người ta nhắc tới nhắc lui cụm từ nuôi tôm trên cát như nhắc đến một phương thức làm ăn mới một cách sống mới một con đường làm giàu mới. Làm giàu ngay trên những triền cát trắng ngơ trắng ngất mới thực sự sang trọng mới thực sự đáng kính trọng. Bây giờ thì chưa bây giờ đang là thời điểm cho các doanh nghiệp và các chủ hộ ra quân triển khai làm hồ tôm trên cát nhưng chỉ một năm nữa thôi Quảng Bình sẽ là một trong những vụ tôm lớn của cả nước. Và những anh nông dân làng cát quen lội bộ quen chúi người bước đi trên cát sẽ chẳng mấy lúc thành triệu phú tỉ phú sẽ ngồi đĩnh đạc trên chiếc ô tô của nhà mình để lái thẳng ra hệ thống hồ tôm nhà mình. Những ông chủ mới. Những triệu phú trẻ. Tất cả đang làm náo nức các làng cát. Tôi đã gặp những ông chủ trẻ như vậy họ không hồ hởi như tôi tưởng họ đăm chiêu và suy tư khi đứng trước những hồ nuôi tôm của mình. Cũng phải thôi thời buổi làm ăn bây giờ công nghiệp hoá đâu cứ phải hứng chí lên là được lại phải có kĩ thuật có kiến thức. Đã không ít ông chủ trẻ vào Nam ra Bắc để học hỏi kinh nghiệm thuê thầy thuê thợ thuê kĩ thuật. Như vậy là có một cuộc cách mạng về ý thức làm giàu không phải làm giàu bằng cơ bắp mà bằng ý chí và tri thức. Thế là mừng. Thế là một sự giàu có chắc chắn và bền vững. Giàu ngay trên cát mới là giàu sang. Triệu phú ngay trên cát trắng mới là triệu phú đáng kính trọng. bỗng dưng tôi lại giật mình với một ý nghĩ nhoi nhói trong lòng: Nếu mà với đà phát triển kinh tế mạnh mẽ thế này thì chẳng mấy lúc những triền cát trắng Quảng Bình sẽ thành rừng xanh sẽ thành hồ tôm sẽ thành những khu vực làm kinh tế và khi ấy sẽ không còn ai nhìn thấy chang chang cồn cát Quảng Bình đâu nữa và khái niệm Quảng Bình cát trắng mà bao nhiêu người còn háo hức muốn nhìn cũng sẽ không còn nữa. Thế thì ngay lúc này ngành du lịch cũng cần phải qui hoạch lại ngay một số triền cát trắng điển hình giữ nguyên hiện trạng ít ra thì khách du lịch trong nước và Quốc tế khi đến Quảng Bình cũng nhìn thấy được dáng vẻ xưa của một Quảng Bình cát trắng. Việc nhỏ ấy nhưng không làm nhanh là không kịp. Việc nhỏ ấy nhưng ý nghĩa không nhỏ bởi vì nói gì thì nói dù sau này Quảng Bình có giàu có và phát triển thì những động cát trắng làng quê vẫn là một biểu tượng không thể nào xoá nhoà được.

More...